Nâng cao kỹ năng tranh tụng của luật sư Việt Nam bên thềm hội nhập.


 


Một vài ý kiến về
Cải cách tư pháp với hoạt động của Luật sư tại phiên tòa

Thực hiện Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp, va qua TANDTP Hà nội đã đưa ra xét xử một số vụ án hình s theo tinh thần cải cách tư pháp.

Qua thực tế tham gia bào chữa cho bị cáo ở các phiên toà được tổ chc xét xử mẫu theo tinh thần thông báo số 01-TB/BCĐCCTP ngày 31/5/2002 của Ban chỉ đạo cải cách tư  pháp, tôi thấy rằng cần có một số vấn đề thực tế cần nêu để cùng tham khảo trong quá trình hành nghề luật sư.

Trong giai đoạn xét xử: Yêu cầu cao nhất của việc xét x tại phiên toà là đảm bảo dân chủ khách quan, chính xác đúng quy định của pháp luật nói chung và của BLHS nói riêng. Việc tranh tụng là tranh luận để làm rõ sự thật khách quan về mọi chi tiết của vụ án, áp dụng đúng những quy định của pháp luật để tội đồng xét xra phán quyết.

Muốn đạt được như vậy, theo tôi cần quan tâm đến những vấn đề sau.

1. Về hình thức

Trên thc tế, việc xét xử trong thời gian qua là theo nguyên tắc công tố trong tố tụng. Để thực hiện cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08, cần tổ chc xét xử theo nguyên tắc tranh tụng, có như vậy mới tạo điều kiện để tìm ra chân lý khách quan của vụ án tránh định kiến chủ quan. Việc ghi nhận nguyên tắc tranh tụng sẽ đi cùng với những sa đổi về thủ tục tiến hành phiên toà xét xử, trong đó chủ yếu là thay đổi cách làm rõ các sự kiện có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án thông qua việc đặt vấn đề của bên buộc tội và bên gỡ tội, cả hai bên cùng có quyền tình đẳng, không bên nào bị hạn chế trong việc trình bày các quan điểm, tình tiết để xem xét, đánh giá bản chất của vụ án. Toà án (HĐXX) với tư cách trung gian sẽ có những quan điểm đánh giá, nhận định và kết luận trước cách xác lập vấn đề từ hai hướng khác nhau.

Trong giai đoạn xét hỏi tại phiên toà: tôi thấy rằng nên xác định trách nhiệm chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo chủ yếu là của đại diện VKS, qua đó chứng tỏ rằng cáo trạng truy tố các bị cáo có căn c hay không, có chính xác hay không và cuối cùng quan điểm luận tội của đại diện VKS đã phù hợp với thực tế khách quan của vụ án chưa?. Đường lối xử lý với tùng trường hợp, từng bị cáo cụ thể mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra đề xuất đã chính xác và có căn cứ đến múc nào?.

Hội đồng xét xử không nên thẩm vấn chi tiết, vì nếu như vậy sẽ dễ sa đà theo hướng thẩm vấn để chng minh định hướng, định kiến có trước của mình, không đảm bảo tính khách quan và sẽ không tránh được tình trạng “án tại hồ sơ''.

Với chc năng của mình, theo khoản 3 Điều 36 BLTTHS, luật sư sẽ thẩm vấn theo hướng ngược lại với quan điểm của đại diện VKS nhằm chứng minh các tình tiết xác định bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị cáo và như vậy nếu HĐXX không có định kiến, định hướng trước sẽ tiếp nhận được thông tin và quan điểm theo hai hướng đối lập để qua đó phân tích, nhận định và kết luận vấn đề thông qua bản án. Có như vậy phán quyết của HĐXX mới thc sự khách quan và ''thấu tình, đạt lý”.

2. Về nội dung:

2.1 Trong xét xử tại phiên toà, nội dung trọng tâm là vấn đề xem xét, đánh giá chứng cứ.

Theo nội dung điều 159 thì “Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng c đã được xem xét tại phiên toà''. Như vậy hoàn toàn phù hợp với tư tưởng của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp rằng “Những vấn đề diễn ra trong phiên toà mới là quan trọng” Cần chấm dứt tình trạng những tình tiết mới tại phiên toà ngay cả khi chưa được thẩm tra xem xét xác định mà vẫn bị hội đồng xét xử đã dùng các tài liệu có trong hồ sơ để nhận định, đánh giá theo chủ quan và phủ nhận những tình tiết tài liệu bị cáo đã khai, đã cung cấp tại phiên toà.

Để việc xét xử công khai tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp của Nghị quyết 08 đạt được yêu cầu tôi nghĩ rằng yếu tố đầu tiên cần phải xoá bỏ là ý thức “án tại hồ sơ'' và chế độ duyệt án. Mà muốn như vậy cần phải:

- Hội đồng xét xử cần phải thoát ra khỏi những định kiến, định hướng có sẵn sau khi nghiên cứu hồ sơ.
- Coi hồ sơ chỉ là cơ sở ban đầu để tổ chc phiên toà xét x.
- Mọi vấn đề phải được xem xét tại phiên toà một cách bình đẳng và cùng cấp độ. Không  phân biệt lời khai ấy, tình tiết ấy, vật chng ấy tài liệu ấy đã được cấp cơ quan điều tra thu nhập trong hồ sơ hay mới phát sinh tại phiên toà.
- Đặc biệt không từ chối xem xét xác minh mà dùng nhận định chủ quan để bác bỏ những tài liệu, chứng cmới (khi có căn c và cơ sở để xác minh xem xét).

2.2 Về nội dung nguyên tắc độc lập xét xử cần được hiểu như thế nào?

Theo tôi, độc lập là: Không cơ quan tổ chức hoặc cá nhân nào được can thiệp vào công việc xét xử. Nếu thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bị chi phối, phải tuân theo những chỉ thị nào đó thì Hội đồng xét xử không còn có trách nhiệm gì đối với việc làm của mình nữa và như vậy phiên toà sẽ trở thành hình thức.

Chỉ có thể có bản án chính xác, có căn c và đảm bảo khách quan khi hội đổng xét x căn cứ vào diễn biến phiên toà như xét hỏi, tranh luận và từ đó hình thành nên ở mỗi thành viên nhận thc độc lập qua đánh giá chứng cđể xác định mc độ nguy hiểm của tội phạm.

Tuy nhiên, hội đồng xét xử không thể vì thế mà có quyền tuỳ tiện xét xtheo ý mình mà gắn liền với quyền độc lập xét xử, Hội đồng xét x phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật do dó pháp luật càng hoàn chỉnh, càng ổn định và cụ thể thì đó là cơ sở để Hội đồng xét xthc hiện quyền độc lập xét xử. Ngoài ra, yêu cầu Hội đồng xét x yêu cầu phải có trình độ pháp lý nghiệp vụ vững vàng, phải chí công vô tư, liêm khiết và có ý thức kiên quyết bảo vệ pháp Luật – Đây là yếu tố con người, vì vậy bao giờ cũng phc tạp và khó khăn.

2.3 Nguyên tắc độc lập xét xử cần được thể hiện cụ thể như thế nào?

Không cá nhân, cơ quan, tổ chc hoặc cá nhân nào được can thiệp vào công tác xét xử -Toà án phải xét xử theo chính kiến của mình.

Toà án không bị ràng buộc bởi kết luận của các cơ quan tiến hành tố tụng khác như Công an - Viện yểm sát mà phải xét x và phán quyết trên cơ sở pháp luật và kết quả của diễn tiến phiên toà, qua xét hỏi, tranh luân công khai tại phiên toà.

Cơ quan Toà án cấp trên chỉ hướng dẫn nghiệp vụ nhường lối chính sách, vận dụng pháp luật. Không thể quyết định trước về cách giải quyết cụ thể trong từng vụ án như có tôi hay không, khung khoản áp dụng mức, hình thức xử lý cụ thể để buộc toà án cấp dưới phải tuân theo.

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đều phải có ý kiến, quan điểm độc lập không phụ thuộc khi thảo luận về mọi vấn đề cần giải quyết trong vụ án và Hội đồng xét xử sẽ quyết định theo đa số qua biểu quyết Việc kết, phối hợp giữa ba ngành trong những giai đoạn, vụ việc cụ thể là cần thiết. Nhưng chỉ nên là hỗ trợ để làm đúng, tôn trọng quyền độc lập của mỗi cơ quan để có thể chế ước lẫn nhau, qua đó tránh sai lầm dẫn đến oan sai.

Giai đoạn tranh luận tại phiên toà

- Vấn đề rất quan trọng về nội dung để góp phần giúp Hội đồng xét xử ra bản án chính xác là nội dung tranh luận tại phiên toà. Về vấn đề này cần quan tâm các vấn đề sau: Trước hết cần hiểu rằng nội dung chính của tranh tụng là tranh luận để làm rõ sự thật khách quan''. Điều 194 - 195 - Bộ luật tố tụng hình squy định. Tranh luận là một phần của phiên toà hình s. Điều 192 quy định về ''đối đáp”, mà đã là đối đáp nghĩa là phải có người phát biểu và có người đáp lại vấn đề đó. Nhưng đáp lại cần phải đáp ng vấn đề gì? Theo tôi không nên đáp lại rằng cách nêu lại một lần nữa quan điểm của mình mà cần phải dùng những căn c tìm tiết cụ thể, thực tế để chng minh phản bác từng vấn đề mà phía bên kia đã đưa ra. Có như vậy mới tạo nên sự “cọ sát'' và bộc lộ căn cứ chứng minh quan điểm của mỗi bên buộc tội và g tội - đó mới là tranh tụng đúng nghĩa và qua đó một lần nữa giữ. Hộl đồng xét xử nhận định, đánh giá và kết luận vấn đề một cách thận trọng, có căn cứ và đảm bảo khách quan.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố:

Để việc xét xử đạt kết quả, tránh oan sai, lọt sót cần có một hồ sơ đầy đủ căn c, tài liệu được thu thập đúng theo trình tự và quy định của Luật tố tụng. Hồ sơ cần hoàn chỉnh và không vi phạm các điều mà Luật tố tụng hình s không cho phép. Muốn vậy hay để khắc phục tình trạng hiện nay, tôi cho rằng luật sư cần được tham gia tố tụng càng sớm càng tốt.

Tuy nhiên trong thc tế hành nghề đã bộc lộ một số khó khăn t phía các cơ quan tiến hành tố tụng gây cản trở hoạt động hành nghề của luật sư như: không đồng ý để luật sư tham gia t giai đoạn điều tra mặc dù không có lý do gì xác đáng theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát không muốn cho luật sư tiếp xúc hồ sơ, Toà án không chấp nhận cho luật sư bào chữa.

Khi tiếp xúc để thực hiện trách nhiệm của mình, luật sư phải đáp ứng rất nhiều loại giấy tờ ngoài giấy giới thiệu của văn phòng và thẻ luật sư như hướng dẫn của Bộ tư pháp. Nói chung luật sư đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là cơ quan điều tra tìm mọi cách thậm chí rất tế nhịn để cản trở sự tham gia của luật sư vào giai đoạn tố tụng đó.

Về vấn đề này, vừa qua đã có một số trường hợp Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư đã phải làm văn bản chính thức để kiến nghị, thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho luật sư thành viên. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về vấn đề này. Viẹc vận dụng của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trước sự tham gia của luật sư vào quá trình tố tụng vẫn còn tùy tiện.

Để giải quyết tình trạng này, đề nghị Bộ tư pháp, Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có thôn gtư liên tịch hướng dẫn thi hành Nghị quyết 08 của Bộ chính trị và Pháp lệnh luật sư năm 2001, cần có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục và những giấy tờ cần thiết mỗi khi luật sư nhận thực hiện trách nhiệm bào chữa, bảo vệ cho bị can, bị cáo từ giai đoạn điều tra, truy tố theo quy định của pháp luật.

(Luật sư Nguyễn Huy Thiệp)

 Quay lại | Trở lại đầu trang
 


 


PGS.TS.LS Phạm Hồng Hải
Chủ nhiệm Đoàn luật sư
TP Hà Nội
 

TRAO ĐỔI

Minh bạch hóa pháp luật công khai các phán quyết của Tòa án trong Tổ chức Thương mại Thế giới và thực trạng của Việt Nam

Nghề luật tại Vương quốc Thụy Điển

Vấn đề đào tạo nghề luật sư hiện nay

Khi Luật sư bị "hành"!

• Đôi điều suy nghĩ về đạo đức nghề nghiệp Luật sư


Thuế: Vấn đề  bức xúc đối với các tổ chức hành nghề Luật sư


Tư vấn pháp luật - Lợi ích siêu tưởng cho các doanh nghiệp

• Một vài ý kiến về cải cách tư pháp với hoạt động của Luật sư tại phiên tòa
 

HỎI ĐÁP


Xử lý vi phạm trong giao dịch mua bán đặt cọc


Từ chối việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam
 

 
Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội - Số 39, phố Linh Lang, phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
ĐT: (84 4) 7624706/7624707
    Fax: (84 4) 7624708     Email: doanluatsuhn@vnn.vn     Website: http://www.luatsuhanoi.org.vn